HANSINGUYEN & FRIENDS
WELCOME TO KHUNG TROI THO NHAC HANSINGUYEN & FRIENDS

Home
TRANG NHAC
VIDEO
HSN & Friends
TRUYEN THO
LIEN HOAN KHUC
PHO CUOI-PHO CUOI
DuongThiLuocGiai
TRANG THO
DacBietGioiThieu
TRANG VAN
LUU BUT
WebsAlbum
GALLERY
GAMES
Am Nhac Viet
Van Chuong Viet















CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI

KHUNG TRỜI THƠ NHẠC

HÀN SĨ NGUYÊN and FRIENDS

 

 

 

HanSiNguyen and Friends
Đặc biệt giới thiệu

oOo

CHÍNH KHÍ CA 02 : ĐẶNG DUNG

 

ĐẶNG DUNG và bài thơ CẢM HOÀI

Vài nét sơ lược về ĐẶNG DUNG và bài thơ CẢM HOÀI

ĐẶNG DUNG là một danh tướng nhà Hậu Trần ( 1407-1413 ).
Cha ông là Đặng Tất theo pḥ Giản Định Đế Trần Ngỗi (cũng gọi là Trần Quỹ) chống quân Minh có nhiều chiến công, nhưng bị gian thần sàm tấu, phải tội chết.
Đặng Dung nối chí cha theo pḥ Trùng Quang Đế Trần Quư Khoách (cũng gọi là Trần Quư Khoáng) tiếp tục sự nghiệp giành độc lập, chống lại quân Minh xâm lược …
Ông là một tướng tài, đánh tướng Minh Trương Phụ nhiều trận thất điên bát đảo. Về sau quân Hậu Trần thua trận, vua tôi đều bị bắt … Trương Phụ dùng thuyền áp giải ra Bắc. Trên đường đi, Đặng Dung đă tuẫn tiết
Tương truyền rằng CẢM HOÀI là bài thơ được Đặng Dung cảm tác trước giờ lâm tử.
Bài thơ này - với lời thơ khí khái, hào hùng, pha lẫn nét chua xót của một vị anh hùng lâm vào tuyệt lộ - đă để lại tiếng vang lớn trong ḷng dân tộc . Đọc bài thơ ấy, không ít người đời sau đă phải sa nước mắt cảm thương
-------------------------------------------------


Thơ Đặng Dung ( nguyên tác Hán văn )

1-CẢM HOÀI

Thế sự du du nại lăo hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ văn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma

Đặng Dung

--------------------------------------


***Dịch nghĩa :

Sự đời trôi êm ả, đă sớm già rồi ư ?
Trời đất rộng bao la, nâng chén say mà hát
Thời cơ đến người tầm thường cũng dễ thành công
Vận số qua mất anh hùng cam nuốt hận
Giúp chúa, ḷng những mong xoay chuyển trục trái đất
Gột giáp sông Ngân khó ḷng mà đổi được ư trời
Thù nhà nợ nước chưa báo mà đầu đă bạc rồi
Biết bao độ mài gươm dưới bóng trăng soi

-HSN giới thiệu-
----------------------------------------


DỊCH THƠ

Bản dịch của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :

CẢM HOÀI

Việc đời man mác tuổi già thôi
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ
Tan tành sự thế luống cay ai
Pḥ vua bụng những mong xoay đất
Gột giáp sông kia khó vạch trời
Đầu bạc giang san thù chửa trả
Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ( 1938 )
----------------------------------------------


Bản dịch của Phan Kế Bính :

CẢM HOÀI

Việc đời bối rối tuổi già vay
Trời đất vô cùng một cuộc say
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay
Vai khiêng trái đất mong pḥ chúa
Gột giáp sông trời khó vạch mây
Thù trả chưa xong đầu đă bạc
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày

Phan Kế Bính
------------------------------------------------


Bản dịch thoát của Hàn Sĩ Nguyên :

CẢM HOÀI 01

Sự đời trôi chảy, sớm già rồi
Trời đất vô cùng nhắp chẳng trôi
Hạ tiện gặp thời nên sự nghiệp
Anh hùng lỡ bước luống ngậm ngùi
Giúp vua dựng nước mong xoay đất
Gột giáp yên dân khó chuyển trời
Thù trả chưa xong đầu đă bạc
Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài

Hàn Sĩ Nguyên
----------------------------------------


Bản dịch thoát 02 của Hàn Sĩ Nguyên :

CẢM HOÀI 02

Sự đời êm ả sớm già sao ?
Trời đất bao la chén dạt dào
Thời đến tầm thường nên sự nghiệp
Vận qua tráng sĩ luống nghẹn ngào
Bền ḷng giúp chúa mong chuyển đất
Gột giáp sông Ngân thẹn trời cao
Thù trả chưa xong đầu đă bạc
Mài gươm bao độ dưới trăng sao

Hàn Sĩ Nguyên
--------------------------------------


Bài hoạ Nghịch Ngôn Thi của Hàn Sĩ Nguyên

KHÓC ĐẶNG DUNG
-Thượng hạ Nghịch họa-

Bao độ mài gươm bóng nguyệt mờ
Quốc thù chưa trả tóc phơ phơ
Tẩy binh giải giáp hằng ươm mộng
Cường lỗ hung tàn khó dệt mơ
Chí cả ḷng son thua vận số
Hùng tài đại lược trách thời cơ
Bao la trời đất say mà hát
Tráng chí ngàn thu vọng tiếng thơ

Hàn Sĩ Nguyên ( 2001 )
-------------------------------------------


MẠN ĐÀM về hai chữ KỶ ĐỘ
trong câu thơ kết, bài CẢM HOÀI của Đặng Dung

Trong bài thơ CẢM HOÀI, tương truyền là một bài thơ cảm tác trước giờ lâm tử, Đặng Dung, một vị đại tướng văn vơ kiêm toàn, tổng chỉ huy quân Hậu Trần, đă ngậm ngùi mà viết rằng :


QUỐC THÙ VỊ BÁO ĐẦU TIÊN BẠCH
KỶ ĐỘ LONG TUYỀN ĐỚI NGUYỆT MA


Lời thơ thật cảm khái, chua xót pha lẫn hào hùng :

-"Thù nước chưa báo được, mà đầu đă sớm bạc. Biết bao độ (kỷ độ) đội ánh trăng (đới nguyệt) mài (ma) thanh gươm báu Long Tuyền "

Hai chữ KỶ ĐỘ trong câu cuối cùng này, từ xưa đến nay nhiều danh sĩ, túc nho đều đồng thanh dịch là BAO ĐỘ, MẤY ĐỘ, BIẾT BAO ĐỘ, BIẾT BAO RÀY ...

Trong hai bài thơ dịch thoát ư Cảm Hoài 01 và Cảm Hoài 02 ở trên, HS~N thực sự cũng không dám ra ngoài khuôn khổ ấy, cũng hai lần sử dụng từ BAO ĐỘ

Tuy vậy, trong thâm tâm HSN vẫn không khỏi băn khoăn :
-" Có phải thực sự Đặng Dung viết 2 chữ KỶ ĐỘ với ư nghĩa là BAO ĐỘ hay không ??? "
Hay là trong hoàn cảnh bại tướng, thân mang xiềng xích, ông muốn nói :
-" BIẾT ĐẾN THUỞ NÀO lại được mài thanh gươm báu dưới ánh trăng (như xưa nữa) !!!"

Ư KỶ ĐỘ là " biết đến độ nào, biết đến thuở nào " này tương tự như chữ KỶ NIÊN trong câu BẠCH ĐẦU LĂNG LƯ KỶ NIÊN PHÙNG vậy : (Nh́n) sóng bạc ngàn trùng (mà ḷng tự hỏi) biết đến năm nào mới được gặp lại (cố nhân)

Dù sao đi nữa ư nghĩ trên chỉ là một ư nghĩ, một cảm nghĩ nhất thời, thực sự HSN không dám đem ư kiến chủ quan của ḿnh áp đặt cho tác giả

Có lẽ chỉ riêng Đặng Dung mới biết rơ ông muốn nói điều ǵ mà thôi ...

HSN
--------------------------------------------


Ghi chú về một số điển tích trong bài thơ CẢM HOÀI

1-Đồ điếu :
-Đồ (=người mổ trâu ḅ, heo; người bán thịt), chỉ Phàn Khoái thời Tây Hán
-Điếu (=người câu cá), chỉ Hàn Tín cũng thời Tây Hán
Hai người này xuất thân tầm thường, nghèo hèn , đều trở thành khai quốc công thần của Hán Cao Tổ Lưu Bang


2-Tẩy binh : Rửa binh khí, rửa vũ khí, rửa áo giáp
Điển tích xuất xứ từ 2 câu thơ của Đỗ Phủ trong bài TẨY BINH MĂ


An đắc tráng sĩ văn Ngân hà
Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng


Nghĩa :

Ước ǵ người tráng sĩ đến được sông Ngân hà
Rửa sạch giáp binh (áo giáp sắt và binh khí) để măi măi không phải dùng đến nữa

Ư hai chữ TẨY BINH muốn nói ước ǵ được giải giáp, không phải dùng đến vũ khí nữa , mong được thái b́nh


Tẩy binh vô lộ văn thiên hà :
Muốn giải giáp, thôi chiến tranh , để lợi nước yên dân cũng chẳng có cách nào thôi được , v́ quân giặc vẫn c̣n xâm chiếm, dày xéo nước nhà ...Ư nghĩa tương tự như CÂY MUỐN LẶNG, mà GIÓ CHẲNG NGỪNG vậy


3-Long Tuyền : Tên của một thanh gươm báu thời xưa
------------------------------------


Một số chi tiết liên quan đến thân thế , tiểu sử ĐẶNG DUNG

-Quê quán : Ông người làng TẢ THIÊN LỘC , huyện PHỈ LỘC , tỉnh HÀ TĨNH
-Năm sinh : Không rơ
-Năm mất : Cuối năm 1413 hoặc đầu năm 1414
-Quan tước : Đồng b́nh chương sự : Trông coi việc quân, việc nước cùng với NGUYỄN CẢNH DỊ
-Sự nghiệp : Giúp vua Giản Định trong hai năm 1407-1408 , đánh bại tướnh Minh Mộc Thạnh trong trận BỒ CÔ; Pḥ vua Trùng Quang chống quân Minh từ năm 1408 đến năm 1413. Có lần suưt bắt sống tướng Minh Trương Phụ
-Tháng 11 năm Quư Tỵ 1413, vua tôi nhà Hậu Trần thua trận bị Trương Phụ bắt, giải về Yên Kinh
-Về trường hợp tử tiết :
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư không có ghi chép nào về cái chết của ông
Ngô Th́ Sĩ trong Việt Sử Tiêu Án chép rằng ông và Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ moi gan an sống
Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim : Vua Trùng Quang nhảy xuống biển tự tử, các tướng sĩ đều tử tiết cả ... Nhưng không nói rơ tử tiết như thế nào.
Theo truyền thuyết trong dân gian, khi bị Trương Phụ bắt giải về Yên Kinh bằng thuyền, vua tôi nhà Hậu Trần đă nhảy xuống biển tự tử ở địa phận Thanh Hóa

CẢM HOÀI là bài thơ duy nhất của Đặng Dung c̣n lưu lại đến nay, được chép nguyên bản bằng chữ Hán trong tác phẩm TOÀN VIỆT THI LỤC

Lư Tử Tấn có lời b́nh rằng : PHI HÀO KIỆT CHI SĨ BẤT NĂNG ...!!!
Nghĩa là : Nếu không phải là kẻ Sĩ hào kiệt, không thể làm nổi bài thơ như thế này !!!

Hiện nay , vẫn c̣n đền thờ cha con ông Đặng Tất, Đặng Dung ở CAN LỘC , HÀ TĨNH
---------------------

Bài Thán

ĐẶNG DUNG


Hậu Trần có Đặng Dung
Gương tiết nghĩa hiếu trung
Đau ḷng cơn quốc phá
Ôm hận buổi gia vong

Pḥ vua qua nước lửa
Giúp nước chẳng nao ḷng
Chí lớn mong sảm Phụ (*)
Tài cao mộng vẫy vùng

Tráng sĩ lâm tuyệt lộ
Thần oai vẫn ung dung
Cảm hoài lưu hậu thế
Rạng rỡ tiếng anh hùng

Hàn Sĩ Nguyên


(*) Sảm Phụ : Nuốt tươi Trương Phụ (tướng nhà Minh)
-----------------------------------------

LƯU Ư :

Trong dân gian, một số người thường bị lẫn lộn giữa 2 nhân vật ĐẶNG DUNG và MẠC ĐĂNG DUNG. Xin nói thêm cho rơ :

1-ĐẶNG DUNG : người được đề cập đến ở đây là một dũng tướng, một bề tôi lương đống của nhà HẬU TRẦN , một bậc anh hùng dân tộc, tuy rằng sự nghiệp chống quân MINH không thành công, nhưng cả 2 cha con ông (Đặng gia phụ tử) đều lưu lại tiếng thơm cùng thanh sử

2-MẠC ĐĂNG DUNG : phản thần của nhà HẬU LÊ, cướp ngôi của vua LÊ, dựng nên nhà MẠC, khởi đầu những cuộc chinh chiến nồi da xáo thịt giữa "NAM BẮC TRIỀU" (Trịnh Mạc xung đột), tiếp theo là "TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH" kéo dài hơn 200 năm, đến TÂY SƠN khởi nghĩa mới thống nhất được đất nước. Triều MẠC khởi đầu từ Mạc Đăng Dung là một trong số các triều đại tồi tệ trong lịch sử VN .

Hai nhân vật này khác nhau xa, xa lắm, chẳng khác nào "SAO TRÊN TRỜI" đem so với "CHÂN VỊT TRÊN MẶT BÙN" vậy !
----------------------------------------------

Bài cảm thán của NguPhu

ĐẶNG TƯỚNG QUÂN CẢM THÁN


Được thời ngạo nghễ nướng sinh dân
Trương Phụ -Minh triều- tướng bất nhân
Móc ruột moi tim so Bạo Sở
Ăn gan uống máu sánh Kiêu Tần
Trời Nam sầu thảm sao Khuê lặn
Đất Việt bi thương ánh Đẩu phần
Can Lộc xót xa ngàn đợt sóng
Đặng Dung muôn thuở tiếng trung thần

NguPhu 



BỒ CÔ DI HẬN 


Năm 1407, Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân giúp vua Giản Định khởi nghĩa chống quân Minh , đánh thắng trận Nhật Lệ , khôi phục nhà Hậu Trần, chiếm giữ từ Thanh Hóa, Nghệ An vào đến Tân B́nh, Thuận Hóa. Tháng chạp năm 1408, quân Hậu Trần ra Bắc tiến đánh Trường An (Ninh B́nh).
Vua Minh sai Mộc Thạnh cầm 4 vạn quân Vân Nam sang đánh dẹp. Quân hai bên giao chiến ở Bồ Cô (xă Hiếu Cổ, huyện Phong Doanh, trấn Ninh B́nh). Phó tướng Lữ Nghị rơi đầu tại trận tiền, chủ tướng quân Vân Nam Mộc Thạnh thua tan tác, chạy trốn vào thành Cổ Lộng
Vua Giản Định toan tốc chiến tốc thắng đem quân ra Đông Đô (Thăng Long). Đặng Tất ngăn cản, ư muốn chờ hội quân các lộ về đủ rồi sẽ tiến đánh sau. V́ việc này mà vua tôi sinh ra bất hoà, Vua Giản Định nghe lời gièm pha, bắt Đặng Tất và Tham mưu Nguyễn Cảnh Chân đem giết đi. Từ đấy ḷng người ly tán.
Vua Minh lại sai đại tướng Trương Phụ sang b́nh định An Nam
Con Đặng Tất là Đặng Dung cùng với con Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị bỏ vua Giản Định theo pḥ Trùng Quang Đế Trần Quư Khoách tiếp tục sự nghiệp chống quân Minh
Trận Bồ Cô không chỉ là một thiên anh hùng ca mà c̣n là một mối thiên thu đại hận đối với hai nhà Đặng , Nguyễn vậy.
Người đời sau đọc đến đây thật khôn xiết nỗi ngậm ngùi !!!
---------------

BỒ CÔ DI HẬN
-Trắc Vận-

Mộc Thạnh bại quân Ninh B́nh trấn
Đặng gia anh dũng Bồ Cô trận
Trường thương bảo kiếm đảo huyền cơ
Tráng mă cường binh thiên địa chấn
Nhất khắc sinh nghi lỗi quân thần
Tinh di đẩu chuyển anh hùng tận
Tâm thành phụ tử chiếu hăn thanh
Bồ Cô thử địa thiên thu hận

Hàn Sĩ Nguyên
9/2001
----------------------------------------


Nghĩa :

Mộc Thạnh thua trận ở trấn Ninh B́nh
Nhà họ Đặng nức tiếng anh hùng qua trận Bồ Cô
Giáo dài gươm bén làm đảo lộn cỗ máy trời
Quân hay ngựa khỏe làm chấn động cả trời đất
Một phút vua nghi ngờ bầy tôi, khiến nên lỗi đạo
Tinh tú chuyển dời, anh hùng tận số
Ḷng thành cả cha lẫn con sử sách măi măi rạng ngời
Bồ Cô đất ấy c̣n lưu lại mối hận ngàn thu
-------------------------------------------------


BỒ CÔ DI HẬN 2

Mộc Thạnh bại binh trấn Ninh B́nh
Đặng gia anh dũng quỷ thần kinh
Đông dương tây kích chém Lữ Nghị
Trúc chẻ ngói tan đuổi Mă Anh
Một phút quân thần cam đoạn nghĩa
Hai vầng nhật nguyệt hóa u minh
Bồ Cô đất ấy ngàn thu hận
Phụ tử ḷng son rạng sử xanh

Hàn Sĩ Nguyên
9/2001
--------------------------------


NGHĨA SĨ CA

Anh hùng vị nghĩa gánh giang san
Đạp tuyết dầm sương rảo thế gian
Bảo kiếm Long Tuyền rung nhật nguyệt
Nhục h́nh Phong Bá động trần hoàn
Tận trung báo quốc, đời khinh bạc
Thao lược kinh luân, lệ chứa chan
Lâm tử cảm hoài lưu hậu thế
Đặng Dung bất khuất chẳng thua Phàn

HÀN SĨ NGUYÊN


*Nhục h́nh PHONG BÁ : (Xử nhục h́nh tại Phong Ba Đ́nh) Nguyên soái NHẠC PHI có công đánh đuổi quân KIM của Hoàn Nhan Ngột Truật, nhưng bị vua Tống nghe lời gian thần Tần Cối xử tội chết ở PHONG BA Đ̀NH.
Đặng Tất cũng rơi vào t́nh huống tương tự .

*Phàn : Phàn Khoái, dũng tướng của Lưu Bang, không khuất phục trước uy vũ của Tây Sở Bá Vương HẠNG VŨ.
Đặng Dung bại binh, bị giặc bắt . Trương Phụ hung tàn, bạo ngược quyết moi gan ăn sống, nhưng khi lâm tử Đặng Dung vẫn để lại bài thơ ư tứ khoáng đạt, ung dung, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng.
---------------------------------------------


BÁN DẠ ĐẶNG DUNG
PHÁ GIANG ĐẦU
TRUY SÁT TRƯƠNG PHỤ


Bán dạ phá giang đầu
Hoả phát soái ḱnh lâu
Cổ độ tung hoành sáo
Tiễn xạ tam liên châu
Quân khí, thôn Ngưu Đẩu
Nộ lăng, Đông Bộ Đầu
Trương Phụ kinh hồn tẩu
Đặng Dung tráng chí lưu

ĐỔNG KỲ YÊN
-------------------------------


Lược dịch :

NỬA ĐÊM ĐẶNG DUNG
PHÁ TRẠI GIẶC
ĐUỔI BẮT TRƯƠNG PHỤ

Nửa đêm phá doanh trại giặc đóng tại bến sông
Lửa cháy lầu chỉ huy trên soái thuyền tướng giặc
Về bến đ̣ xưa tung hoành ngọn giáo
Tên bắn bằng nỏ liên hoàn 3 phát một
Khí thế quân sĩ bốc cao che mờ cả sao Ngưu sao Đẩu
Ngọn sóng cuồng nộ dậy lên ở bến Đông Bộ Đầu
Tướng giặc Trương Phụ chạy kinh hồn bạt vía
Chí khí người tráng sĩ Đặng Dung c̣n lưu lại măi măi cùng sử xanh.

***Ghi chú :
Đông Bộ Đầu : tên chỉ bến sông Hồng ven thành Thăng Long (thành Đông Quan, Đông Đô , nay là thành Hà Nội)

***Lưu ư : Trong bài thơ "Phá giang đầu" này, rất tiếc là đă có một chi tiết lịch sử không chính xác .
Về địa điểm, trận tập kích truy sát Trương Phụ không phải xảy ra ở Đông Bộ Đầu, mà là ở Hóa Châu. Hai tướng lănh chỉ huy trận ấy là Đặng Dung và Nguyễn Suư.
Dẫu có khiếm khuyết ấy, tính hào hùng của bài thơ này vẫn không hề bị suy giảm vậy.


Bài dịch thoát ư thơ ĐỔNG KỲ YÊN :

NỬA ĐÊM PHÁ TRẠI GIẶC

Nửa đêm xung trận phá giang đầu
Lửa đỏ lâu thuyền rực chiến bào
Bến cũ anh hùng vung ngọn giáo
Trường giang nghịch tặc khiếp liên châu
Ba quân khí thế mờ ngưu đẩu
Một ngọn sóng hờn lấp trăng sao
Trương Phụ hồn bay cam bại tẩu
Đặng Dung muôn thuở tiếng truyền lưu

HÀN SĨ NGUYÊN
----------------------------------------------

Thêm một bài thơ về Đặng Dung của Đổng Kỳ Yên :

THẤT CAN

Hữu tâm hữu trí hữu can trường
Đặng gia phụ tử thị trung lương
Thất can lưu huyết anh hùng tận
Trung hiếu song toàn bách thế phương

ĐỔNG KỲ YÊN
-------------------------

Dịch nghĩa 

MẤT GAN

Có ḷng [trung nghĩa], có trí tuệ, lại có cả [tinh thần] dũng cảm
Cha con nhà họ Đặng quả thật là những bậc tôi trung tướng giỏi
[Dẫu] gan mất, máu chảy, anh hùng tận số
[Tiếng tốt] trung hiếu vẹn toàn c̣n để lại danh thơm măi đến muôn đời sau vậy

Ghi chú
Thất can : Tương truyền rằng khi bị Trương Phụ bắt, cả Đặng Dung lẫn Nguyễn Cảnh Dị đều bị giặc moi gan ăn sống !


Bài cảm tác từ ư thơ của ĐỔNG KỲ YÊN 

MẤT GAN

Sa cơ đoản mạng vẫn anh hùng
Máu chảy đầu rơi vẹn hiếu trung
Gan mất, muôn thu danh chẳng mất
Hậu Trần vang vọng tiếng Đặng Dung

HÀN SĨ NGUYÊN

-Và đây chỉ là bài cảm tác, không phải là bài dịch-

 

REPLY

 

Trở lại Trang VĂN
HSN and Friends
Đặc biệt giới thiệu




@Copyrights by HanSiNguyen